Vai trò của các Cụm công nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội - Những nội dung cơ bản để phát triển các Cụm công nghiệp Bắc Ninh gắn với phát triển bền vững

26/08/2019 14:26 Số lượt xem: 114
Sau 20 năm phát triển, cụm công nghiệp đã mang lại hiệu quả rất lớn: góp phần tăng trưởng sản xuất công nghiệp, giải quyết vấn đề lao động, việc làm, cải thiện đời sống dân sinh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng công nghiệp hóa...

     1. Vai trò của Cụm công nghiệp đối với phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Ninh trong những năm vừa qua.

     Các cụm công nghiệp tỉnh Bắc Ninh ra đời và phát triển theo tinh thần tại Nghị Quyết số 04/NQ-TU (Khóa XV) năm 1998, Nghị quyết 02/NQ-TU ( khóa XVI) năm 2001 và Nghị quyết 02/ NQ-TU( khóa XVII) năm 2006 của Tỉnh ủy. Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển, các cụm công nghiệp đã được hình thành và đã đạt được các kết quả quan trọng, góp phần làm tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn, đóng góp vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh, tạo mặt bằng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ cá thể  mở rộng và phát triển sản xuất và có điều kiện đầu tư công nghệ mới kết hợp với công nghệ cổ truyền sản xuất các mặt hàng mới, tạo điều kiện xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề, đồng thời giải quyết nhiều việc làm cho người lao động ở khu vực nông thôn.

     Sau 20 năm phát triển, cụm công nghiệp đã mang lại hiệu quả rất lớn: góp phần tăng trưởng sản xuất công nghiệp, giải quyết vấn đề lao động, việc làm, cải thiện đời sống dân sinh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng công nghiệp hóa. Có thể đánh giá về hiệu quả của các cụm công nghiệp qua các tiêu chí sau:

     a) Giá trị sản xuất công nghiệp: Trong 10 năm (2000- 2010) theo tính toán từ số liệu của cục thống kê, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trong các cụm công nghiệp đạt được khoảng 13.674 tỷ đồng (theo giá hiện hành), tăng trưởng bình quân 47,7%/năm, đến năm 2010 chiếm 34,0% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn.  Giai đoạn 2010-2015, tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp của các cụm công nghiệp là 12,4%/năm, đến năm 2015 chiếm tỷ trọng 9,4% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (do khu vực FDI tăng trưởng đột phá, chiếm tỷ trọng trên 90%)).

     b) Sản phẩm công nghiệp chủ yếu: Các cụm công nghiệp tạo ra các sản phẩm mà địa phương có tiềm năng, thế mạnh như: Chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, thức ăn cho chăn nuôi, đồ gỗ mỹ nghệ, gỗ dân dụng, giấy các loại, sắt thép xây dựng, gạch xây dựng, v.v. Tuy nhiên, chủng loại sản phẩm chưa nhiều, ít sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, sức cạnh tranh trên thị trường không cao.

     c) Các cụm công nghiệp góp phần tăng thu cho ngân sách: Số doanh nghiệp đăng ký đầu tư sản xuất kinh doanh vào các CCN đến tháng 7 năm 2018 là hơn 800 doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương. Đặc biệt với 05 cụm công nghiệp làng nghề do UBND cấp xã làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp đã lấp đầy 100% đất công nghiệp. Các khoản thu nội địa từ sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của tỉnh Bắc Ninh tăng trưởng liên tục trong đó có đóng góp rất lớn của khu vực sản xuất công nghiệp (năm 2000 đạt 154 tỷ đồng, chiếm 50,9% tổng thu ngân sách nhà nước; năm 2010 đạt 2.065 tỷ đồng, chiếm 33,8%; năm 2015 đạt 6.920 tỷ đồng, chiếm 45,9% tổng thu ngân sách nhà nước.

     d) Cùng với các khu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp đã thu hút được lượng lớn lao động vào làm việc, giải quyết rất lớn số lao động ở trình độ phổ thông, lao động nông thôn trong quá trình chuyển đổi từ lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp. Theo số liệu thống kê lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc trong các khu, cụm công nghiệp tăng lên rất nhanh: năm 2000, tổng số lao động toàn tỉnh là 528.213 người, trong đó riêng lao động trong khu vực công nghiệp – xây dựng là 59.201 người (chiếm 11,2 % tổng số lao động), phần lớn số lao động này tập trung trong các khu, cụm công nghiệp; năm 2010 tăng lên đạt 197.551 người (chiếm 33,3%); năm 2015 tiếp tục tăng mạnh là 307.691 người (chiếm 46,3%).

     2. Thực trạng phát triển các CCN Bắc Ninh hiện nay:

     Đến hết ngày 31 tháng 01 năm 2019, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp  theo các Quyết định số 1369/QĐ-TTg ngày 17/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 396/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 và Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 15/01/2019 có tổng số 33 cụm công nghiệp, trong đó 22 cụm đã thực hiện đầu tư và đi vào hoạt động. Dừng triển khai đối với 7 cụm công nghiệp, thực hiện chuyển đổi sang khu đô thị, dịch vụ một số cụm công nghiệp.

     Trong quá trình phát triển, bên cạnh kết quả tích cực,  các cụm công nghiệp cũng bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế cần củng cố và khắc phục để  tiếp tục hoạt động theo đúng quy định và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn, đảm bảo phát triển bền vững. Các tồn tại, hạn chế thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

     - Hiện nay, chỉ có 2 cụm công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung hoạt động là CCN Phong  Khê, CCN Đông Thọ. Tuy nhiên, CCN Phong Khê đối mặt với khó khăn trong triển khai vận hành như đấu nối từ nhà xưởng của các hộ vào hệ thống, ý thức tham gia của các cơ sở sản xuất chưa tốt nên chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Một số cụm công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là các cụm công nghiệp làng nghề như Xuân Lâm, Phong Khê...

     - Các cụm công nghiệp chủ yếu là các cụm công nghiệp làng nghề với quy mô nhỏ, dẫn đến hiệu quả đầu tư hạ tầng thấp, khó khăn trong việc huy động vốn đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung.

     - Hiện tại, các cụm công nghiệp trên địa bàn tồn tại 3 loại hình chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp: Do UBND cấp xã làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng; Do Doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; Một số CCN hiện không có chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp (trước đây do Ban quản lý các khu, cụm công nghiệp trực thuộc UBND huyện đứng ra làm chủ đầu tư, nay đã giải thể);

     Tuy nhiên, các cụm công nghiệp do UBND xã bộc lộ nhiều hạn chế:

  • UBND cấp xã không đủ tư cách pháp nhân, không đủ năng lực để thực hiện chức năng làm chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật; Công tác quản lý quy hoạch, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp không đạt theo yêu cầu, xuất hiện nhiều tình trạng xây dưng không có giấy phép hoặc không đúng giấy phép xây dựng được cấp, sử dụng đât không đúng mục đích, vi phạm về phòng cháy chữa cháy, an toàn điện, an toàn lao động,... Môi trường trong cụm công nghiệp ô nhiễm nghiêm trọng do công tác xử lý, đảm bảo về vệ sinh, môi trường không được quan tâm.

     3.  Những nội dung cơ bản để phát triển các CCN Bắc Ninh theo hướng bền vững

     Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau".

     Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống.

     Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc. Chính phủ Việt Nam sớm quan tâm tới vấn đề phát triển bền vững, Thủ tướng chính phủ đã có những chỉ đạo tại các quyết định QĐ số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 Về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở việt nam (chương trình nghị sự 21 của việt nam); Quyết định số 432/QĐ-Ttg phê duyệt chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đưa ra các chỉ tiêu giám sát phát triển bền vững gồm các 4 nhóm chỉ tiêu bao gồm: tổng hợp, kinh tế, xã hội, tài nguyên môi trường. Phát triển tốt cụm công nghiệp có thể trực tiếp đóng góp cải thiện một số chỉ tiêu đến năm 2020 cụ thể như sau:

     a, Các chỉ tiêu kinh tế:

     - Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR): < 5,0 ;

     - Năng suất lao động xã hội (USD/lao động): 6.100-6.500;

     - Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tốc độ tăng trưởng chung: 35%;

     - Mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị GDP: 2,3-2,5%;

     - Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu sử dụng năng lượng: 5%

     b, Các chỉ tiêu xã hội:

     - Tỷ lệ thất nghiệp: <3% ;

     c, Các chỉ tiêu về tài nguyên môi trường:

     - Tỷ lệ các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp xử lý chất thải rắn, nước thải đạt tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng: >70%.

     - Tỷ lệ chất thải rắn thu gom, đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng: <90%.

     Với mục tiêu tách sản xuất khỏi chức năng ở tại các làng nghề, phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, góp phần giải quyết việc làm, bảo tồn nghề truyền thống và sản phẩm đặc trưng của địa phương, phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã chứng minh hiệu quả nhất định. Về cơ bản, tỷ lệ thất nghiệp tại Bắc Ninh đã đạt chỉ tiêu đề ra. Để đạt được mục tiêu chung, các chỉ tiêu đóng góp từ CCN trên địa bàn tỉnh cần phải bằng hoặc cao hơn mục tiêu quốc gia. Để làm được điều đó cần giải quyết những vấn đề sau nhằm tăng cường đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững:

     - Rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp, thống nhất mô hình chủ đầu tư:  theo đó, cần đưa ra khỏi Quy hoạch và xây dựng lộ trình chuyển đổi các cụm công nghiệp không còn phù hợp với Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các cụm công nghiệp có hiệu quả đầu tư thấp sang mục đích phát triển lĩnh vực, ngành nghề khác có hiệu quả cao hơn. Thống nhất kêu gọi doanh nghiệp có năng lực làm chủ đầu tư các CCN nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư CCN. Phấn đấu cải thiện các chỉ tiêu kinh tế như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR)< 5,0 ; Nâng cao Năng suất lao động xã hội vượt mức 6.5000 USD.

     - Xây dựng cơ chế, chính sách Hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp và hỗ trợ kinh phí di dời các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề vào cụm công nghiệp làng nghề: giải pháp này nhằm giải quyết các vấn đề môi trường của làng nghề, nâng cao chất lượng sống cho người dân tại các làng nghề. Tuy nhiên, cần lưu ý phát triển đồng bộ hạ tầng Cụm công nghiệp đặc biệt là xử lý nước thải, chất thải rắn và có quy chế chặt chẽ trong việc kiểm soát phát thải CO2. Phấn đấu đạt tỷ lệ 100% đối với chỉ tiêu về xử lý nước thải và thu gom xử lý chất thải rắn.

     - Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ mới, ứng dụng vật liệu, năng lượng mới thân thiện với môi trường: Đối với các doanh nghiệp đang sản xuất cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ sử dụng năng lượng tái tạo, thay thế nhiên liệu hóa thạch; khuyến khích cải tiến dây chuyền sản xuất, phương pháp sản xuất nhằm hạn chế tiêu hao năng lượng và nguyên vật liệu. Đối với các dự án sắp đầu tư, cần ưu tiên lựa chọn ngành nghề có hàm lượng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Giải pháp này có thể góp phần nâng cao tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế, môi trường.

     - Ưu tiên phát triển các ngành nghề phát huy được lợi thế cạnh tranh của địa phương: Nhằm phát triển cụm công nghiệp một cách ổn định, góp phần giảm bớt sự lệ thuộc của công nghiệp tỉnh nhà vào các dự án FDI cần lưu ý phát triển các dự án trong cụm công nghiệp dựa trên lợi thế cạnh tranh của địa phương. Trước hết là ưu tiên phát triển các sản phẩm địa phương như: đúc đồng, gỗ mỹ nghệ, giấy… Kế đến là những sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có khả năng cạnh tranh tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đã được xác định ưu tiên phát triển: cơ khí chế tạo, điện, điện tử, thực phẩm đồ uống.

Vũ Quý - Trưởng phòng Quản lý Xuất Nhập khẩu

Liên kết Website

Không tìm thấy dữ liệu

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 6764

Đã truy cập : 43497450